13:40 EST Thứ ba, 17/01/2017
Chào mừng bạn đến với Trang tin điện tử Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Hà Tĩnh

 Liên kết website

 Liên Kết

Trang chủ » Cập nhật thông tin » Văn hóa - văn nghệ

Sức sống Truyện Kiều

Thứ tư - 06/01/2016 02:36
Từ khi ra đời đến nay, gần 200 năm, Truyện Kiều luôn có một sức sống mới mẻ trong đời sống văn học, văn hóa tinh thần của nhân dân. Trong nghiên cứu phê bình, Truyện Kiều không ngừng được nghiên cứu, tìm hiểu ở nhiều phương diện, góc độ và vẫn tiếp tục mở ra nhiều hướng tiếp cận mới
Lễ kỷ niệm 250 ngày sinh Đại thi hào dân tộc Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du

Lễ kỷ niệm 250 ngày sinh Đại thi hào dân tộc Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Du

Trong đời sống tiếp nhận văn học, Truyện Kiều là niềm say mê, yêu thích của nhiều người, nhiều thế hệ, trong nước và mở rộng biên giới đến nhiều nước trên thế giới… Trong lịch sử văn học, nếu nói về một tác phẩm văn học có mức độ phổ biến, ảnh hưởng sâu rộng và tác động mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của người đọc thì Truyện Kiều đứng ở vị trí số một.

           Sức sống của Truyện Kiều nằm ở giá trị kinh điển của tác phẩm về nội dung và nghệ thuật. Về nội dung, có thể thấy rằng, những vấn đề về xã hội, thân phận, nỗi niềm của con người và những ứng xử tình - lý của con người trong mối quan hệ với xã hội, với tha nhân và với chính bản thân mình đã được Nguyễn Du điển hình hóa một cách sâu sắc và thấm thía qua diễn trình cuộc đời của một con người cụ thể - nhân vật Thúy Kiều. Về nghệ thuật, đó là sự kết hợp điêu luyện đến mức thần tình của ngôn ngữ bình dân và ngôn ngữ bác học với hệ thống hình ảnh ước lệ, điển cố, điển tích đặc trưng của văn học trung đại. Ngôn ngữ kể chuyện lấy từ lời ăn tiếng nói hằng ngày của người bình dân là mạch nguồn chủ đạo trong sự kể và tả, phân tích; hệ thống hình ảnh ước lệ, điển cố bác học góp phần làm cho những sự tình đó được chắp hồn, chắp cánh, thăng hoa. Chủ nghĩa nhân đạo, nhân văn trong Truyện Kiều đạt đến tầm phổ quát, phi thời đại đã được biểu hiện một cách tuyệt vời tinh tế và cụ thể, giản dị trong từng câu chữ của áng thơ, tình huống, cảnh ngộ, chi tiết của cốt truyện, tâm tư, suy nghĩ, hành động của nhân vật. Đó là sự giao hòa, xuyên thấm của những "năng lực dị thường" (chữ của Hoài Thanh) về nội tâm và ngôn ngữ của Đại thi hào Nguyễn Du.

Tính cụ thể đạt đến mức điển hình hóa làm nên giá trị nổi bật nhất, tường giải cho sức sống phi thời gian của Truyện Kiều. Những giá trị tinh thần trong kiệt tác của Nguyễn Du vượt qua khung thời gian, không gian của một xã hội, một giai đoạn lịch sử để “đồng vọng” đến muôn đời sau. Nguyễn Du đã đi đến tận cùng nỗi niềm, cảnh ngộ nhận vật của mình để diễn đạt khái quát được nỗi niềm, cảnh ngộ của muôn người trong muôn thời. “Đi đến tận cùng trái tim ta sẽ gặp nhân loại”, cũng có thể nói như thế, Nguyễn Du đã đi đến tận cùng, cốt lõi của những vấn đề xã hội đương thời để gặp những đề cốt lõi của mọi xã hội, mọi thời đại.

          Tính điển hình đạt đến mức siêu việt và tuyệt đối trong miêu tả cảnh, ngụ tình, diễn ý đã dẫn đến một hiệu ứng đầy tâm linh trong tiếp nhận của người đọc là việc dùng Kiều để… xem bói. Giải thích từ góc độ tâm lý, bói là gì, là khi con người ta gặp những chuyện bất trắc, không như ý, muốn tìm một lời câu trả lời, tìm một sự an ủi, chia xẻ hoặc là khi con người ta băn khoăn về những chuyện tương lai và ham muốn được giải đáp. Người ta tìm thấy trong thi phẩm của Nguyễn Du nhiều tâm trạng nhiều cảnh ngộ, nhiều dẫn dụ, ám gợi có thể phù hợp, trả lời thay cho những tra vấn của mình. Truyện Kiều trở thành tác phẩm nghệ thuật duy nhất trong 200 năm qua của Việt Nam, và có lẽ trên thế giới được dùng để bói. Rất nhiều chuyện kể có thật và mang tính giai thoại về tính ứng nghiệm của việc bói Kiều. Lý giải khả năng kỳ diệu này của Truyện Kiều, TS Đào Nguyên Phổ (1895) cho rằng phải chăng văn chương Truyện Kiều là một khúc tình từ quán tuyệt thiên cổ… cho nên chẳng những làm say lòng người đọc mà còn cảm thông được thần linh nữa". Đó là một cách để diễn đạt sự thán phục, ngưỡng mộ kiệt tác của người xưa. Còn như "cứ trong tác phẩm mà suy" thì sở dĩ có thể tìm thấy mọi lời giải đáp cho những vấn tâm, vấn sự, vấn tình của người đọc chính là vì trong Truyện Kiều có nhiều tâm trạng, nhiều cảnh ngộ, "Truyện Kiều là quyển bách khoa toàn thư của một vạn tâm hồn", và hơn thế những tâm trạng, cảnh ngộ đó được phân tích, bình luận, mổ xẻ một cách rố ráo, đến cùng, khiến nó được cấp cho một tính khách quan, chân thực, cụ thể và thuyết phục hiếm thấy. Đó là lý do người đọc kiều có thể vận dụng, ám dụ cho rất nhiều tình huống trong cuộc sống.

 Sự nào tình ấy, mỗi từ ngữ, hình ảnh, câu thơ trong Truyện Kiều đều mang lại sự đồng cảm thấm thía cho người đọc. Những nỗi niềm, cảnh ngộ đâu đó rất gần, như của chính mình, cũng có thể không nhưng lại có thể cảm nghe và thấu hiểu được. Cảm xúc đó hoàn toàn có thật và tồn tại một cách thường trực khi đọc tác phẩm. Hãy đọc lại đoạn Nguyễn Du miêu tả tâm trạng của Thúy Kiều và Kim Trọng khi hai người chia tay để Kim Trong về quê chịu tang: Còn non còn nước còn dài/ Còn về còn nhớ đến ngày hôm nay/ Dùng dằng chữa nỡ rời tay/ Vầng đông trông đã đứng ngay nóc nhà/ Ngại ngùng một bước một xa/ Một lời trân trọng châu sa mấy hàng/ Buộc yên, quảy gành vội vàng/ Mối sấu se nửa, bước đường chia hai/ Buồn trong phong cảnh quê người/ Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa/ Não người cữ gió tuần mưa, Một ngày nặng gánh tương tư một ngày/ Nàng còn đứng tựa hiên tây/ Chín hồi vấn vít như vầy mối tơ/ Trông chừng khói ngất song thưa/ Hoa trôi giạt thắm, liễu xơ xác vàng… Những lời miêu tả ấy của Nguyễn Du về nỗi niềm "chưa vui sum họp đã sầu chia phôi" của Thúy Kiều và Kim Trọng thiết nghĩ không cần phải phân tích gì thêm. Mỗi từ là một trĩu nặng buồn nhớ day dứt. Giờ là "một bước một xa", rồi đây "một ngày nặng gánh tương tư một ngày"… Cảnh phụ họa thêm vào mối sầu chia phôi ấy, vừa vô tình, thách thức trêu ngươi "vầng đông trông đã đứng ngay nóc nhà", vừa dẫn dụ lòng người vào một nỗi hoang mang vô bờ bến "đầu cành quyên nhặt cuối trời nhạn thưa"…, và cuối cùng là cùng nhất thể hóa với nhân vật trong một sự tan tác, rã rời, tàn tạ "hoa trôi giạt thắm, liễu xơ xác vàng". Hẳn nhiên hình ảnh ước lệ ấy đã hoàn toàn mang sắc thái của một cá thể đầy tâm trạng. Nhà thơ, với tư cách là người "biết trước" mọi việc đã vô tình vô tình ám ngụ vào buổi chia tay đầu tiên của hai nhân vật chính trong tác phẩm dự cảm không lành, đầy lo âu của mình. Và kể từ đây dự cảm ấy sẽ theo suốt trong mỗi cảnh ngộ bước đường lưu lạc của nhân vật Thúy Kiều. Sắc thái tâm lý này cũng là yếu tố góp phần làm tăng thêm sự phong phú, đầy đủ, điển hình của sự tả tình trong Truyện Kiều. Có thể nói, biệt tài của Nguyễn Du trong miêu tả, phân tích tâm lý là luôn hướng tới định tính hóa, đại lượng hóa được những nỗi niềm, tâm trạng đó, kiểu như "Sầu đong càng lắc càng đầy/ Ba thu dọn lại một ngày dài ghê",  "Tuy rằng vui chữ vu quy/ Vui này đã cất sầu kia được nào", "Vi lô san sát hơi may/ Một trời thu, để riêng ai một người"… khiến nó nhanh chóng được thừa nhận và được đồng cảm trong cảm thức tiếp nhận của người đọc. Những câu thơ này cũng như tất cả những câu thơ, đoạn thơ tả tình, tả cảnh, diễn sự khác trong Truyện Kiều sở dĩ phù hợp với nhiều cảnh ngộ, tâm trạng, suy tư của nhiều người là vì vậy.

          Nhà nghiên cứu Phan Ngọc, người có những công trình nghiên cứu công phu và hết sức giá trị về Truyên Kiều đã nhận định hết sức chính xác, rằng điều hết sức quan trọng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, làm nên sức trường tồn, giá trị bất hủ của tác phẩm này chính là ngay từ thế kỷ XIX, Truyện Kiều đã là "một tiểu thuyết phân tích tâm lý theo cái nghĩa hiện đại của từ này". Một mặt tâm lý "con người bị phanh phui tàn nhẫn, hết kiệt", Nguyễn Du phân tích con người tới điểm giới hạn (đạt đến tính cá thể hóa, điển hình như đã nói ở trên), mặt khác nó lại được đặt trong nguyên tắc "biện chứng pháp" tâm hồn, nghĩa là tính cách có quá trình phát triển của nó với sự tác động chi phối của hoàn cảnh sống, của sự trưởng thành và kinh nghiệm sống. Nhân vật của Nguyễn Du không phải là nhân vật ước lệ được mô tả trong tính chất nhất thành bất biến mà được đặt trong hoàn cảnh, chịu sự tác động, va đập của hoàn cảnh, tâm trạng diễn biến theo cảnh ngộ, tính cách bộc phát qua các tình huống, hành động, ứng xử trong sự diễn tiến của sự việc… Tính biện chứng này khiến cho việc khắc họa các nhân vật trở nên sống động, khách quan (kể cả Thúy Kiều, nhân vật ưu ái của tác giả cũng được miêu tả rất khách quan), rất thực, rất thỏa đáng và đầy sức thuyết phục. Tôn trọng tuyệt đối diễn trình khách quan, biện chứng đó trong xây dựng tính cách, tâm lý, ứng xử của nhân vật, Truyện Kiều khiến người đọc "tâm phục, khẩu phục", cảm thấy được thuyết phục và cảm thấy "hài lòng, thỏa mãn" bởi sự thấu tình đạt lý. Với Thúy Kiều, tính cách, ứng xử của nàng kể từ đầu cho đến lúc kết thúc tác phẩm đều là sự hợp lẽ, đúng logic sự việc, tính cách. Nhiều người phản biện về một số hành động và ứng xử của Kiều, chẳng hạn hành động được cho là khá "hồ đồ", "nông cạn" của nàng khi nàng xui Từ Hải ra hàng Hồ Tôn Hiến. Theo tôi, hãy cứ theo sát, đồng cảm với nhân vật ta sẽ thấy Kiều hành động như vậy là hoàn toàn hợp logic tâm lý, hoàn cảnh, có lẽ ai cũng sẽ có tâm lý, ứng xử như Thúy Kiều, gặp được anh hùng giữa trần ai sau bấy nhiêu cảnh ngộ "tai nạn đã đầy", tâm sự bấy chầy trải qua trong suốt 15 năm tuổi trẻ, nàng những mong ước thoát khỏi kiếp mình "mặt nước cánh bèo", "chiếc bách giữa dòng", mong ước đạt được "Công tư vẹn cả hai bề/ Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương/ Cũng ngôi mệnh phụ đường đường/ Nở nang mày mặt rỡ ràng mẹ cha". Nên nhớ rằng Thúy Kiều không phải là nhân vật minh họa cho những tư tưởng lớn lao, nàng là người phụ nữ bình thường. Ứng xử của nàng như thế mới là con người bình thường, như thế mới là chân thực. Những lời Kiều khuyên Thúc Sinh về nhà trình bày sự việc với Hoạn Thư cho thấy nàng là người thấu hiểu lý lẽ, đạo lý ở đời: Trướng Hồ vắng vẻ đêm thanh/ E tình nàng mới bày tình riêng chung:/ "Phận bồ từ vẹn chữ tòng/ Đổi thay nhạn yến đã hòng đầy niên/ Tin nhà ngày một vắng tin/ Mặn tình cát lũy nhạt tình tao khang/…Xin chàng kíp liệu lại nhà/ Trước người đẹp ý, sau ta biết tình/… Đôi ta chút nghĩa đèo bòng/ Đến nhà trước liệu nói sòng cho minh/ Dù khi sóng gió bất bình/ Lớn ra uy lớn, tôi đành phận tôi/ Hơn điều dấu ngược dấu xuôi/ Lại mang những việc tầy trời đến sau"… Trong Truyện Kiều, suy nghĩ, hành động, ứng xử của các nhân vật khác như Hoạn Thư, Từ Hải, Kim Trọng… đều được phân tích rõ tình lý, ứng biến theo diễn tiến của hoàn cảnh sự việc, tình lý sáng rõ… Đây lại là một yếu tố nữa khiến Truyện Kiều, chỉ gói gọn trong 3254 câu thơ mà người đọc có thể tìm thấy sự đồng cảm, tâm đắc với "muôn ngàn" cung bậc tình cảm, cảnh huống, ứng đối trong cuộc đời…

          Có thể nói năng lực tài tình của Nguyễn Du trong việc phân tích nội tâm, hành động, ứng xử của nhân vật một cách cụ thể, khách quan, đúng logic của hoàn cảnh và diễn biến tâm lý đã khiến cho Truyện Kiều trở nên có sức khái quát và điển hình hóa cao độ, trở thành tâm tư, suy nghĩ, thái độ, cảm xúc của nhiều người, nhiều thế hệ, nhiều thời đại. Là tiểu thuyết bằng thơ, với những giá trị kinh điển, Truyện Kiều đã và tiếp tục đời sống đặc biệt của nó trong lòng người đọc, trong đời sống văn hóa dân tộc.

Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Nguyệt

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

 VIDEO CLIP

 BẢN ĐỒ HÀ TĨNH

 Thư viện hình ảnh

  • Thường trực Tỉnh ủy làm việc với LHH Việt Nam

 Hỗ trợ trực tuyến

Liên Hiệp Hội

Name: Thái Sơn

 Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 14


Hôm nayHôm nay : 610

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 10964

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 943788